Đề tài được thực hiện trong quá trình học tập tại trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
cùng các thành viên nhóm học tập
cùng các thành viên nhóm học tập
---
Tài nguyên thiên
nhiên là những của cải có sẵn trong tự nhiên, là món quà mà thiên nhiên ban tặng
cho con người. Tuy vậy, nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận. Hiện
trạng tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang
diễn biến theo chiều hướng tiêu cực, bị thu hẹp cả về số lượng và chất lượng. Đặc
biệt, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu sử dụng tài
nguyên thiên nhiên ngày càng cao. Luật TTN, Luật bảo vệ môi trường ra đời đã
góp phần giải đáp được những trăn trở của cộng đồng về việc bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên dưới sự tác động của nhu cầu phát triển kinh tế bằng cách đặt
ra các công cụ kinh tế để đánh vào hành vi khai thác, sử dụng của con người.
Tuy nhiên, trong thời gian qua việc áp dụng các biện pháp này trong thực tế vẫn
chưa thực sự hiệu quả. Luật TTN hiện hành mặc dù có những đóng góp tích cực
trong việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng chưa
thực sự giải quyết được những tồn tại, bất cập trong thực tiễn. Nhận thức được
sự cấp thiết đó, nhóm chúng tôi chọn đề
tài thu, nộp, sử dụng TTN gắn với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
trên cơ sở điều tra xã hội học ghi nhận những ý kiến nhất định của một số nhóm
đối tượng, nghiên cứu quy định của văn bản pháp luật Việt Nam, đồng thời có sự
so sánh, đánh giá, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật.
[...]
Kiến nghị:
Trong thời kỳ
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước như hiện nay, nhu cầu khai thác và sử dụng
tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho phát triển kinh tế ngày càng tăng. Tài
nguyên được khai thác và sử dụng ngày càng nhiều, lợi nhuận thu được từ hoạt động
kinh doanh trong lĩnh vực này có xu hướng tăng nhanh. Trong khi đó, công tác quản
lý nguồn tài nguyên chưa được thực hiện một cách triệt để, hoạt động khai thác
tài nguyên diễn ra một cách tràn lan, không đúng quy định, trốn thuế ngày càng
nhiều, dẫn đến thất thoát nguồn tài nguyên, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường,
thất thu cho ngân sách nhà nước. Do đó, hoàn thiện pháp luật về TTN là yêu cầu
cấp thiết được đặt ra trong bối cảnh hiện nay.
Trên cơ sở phân
tích và đánh giá về việc thu, nộp, sử dụng TTN ở trên, chúng tôi có những để xuất,
kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật, đảm bảo đúng với mục đích và yêu cầu của
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, đồng thời đảm bảo lợi ích kinh tế hợp
lý từ tài nguyên thiên nhiên. Cụ thể như sau:
Về đối tượng chịu
thuế:
- Bỏ quy định “tài nguyên khác
do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định” trong nhóm tài nguyên thuộc đối tượng chịu
TTN để đảm bảo tính minh bạch của pháp luật, chỉ khi khai thác, sử dụng tài
nguyên thuộc đối tượng chịu thuế được quy định trong luật thì người nộp thuế mới
phải thực hiện nghĩa vụ tài chính này, làm rõ ràng hơn nguyên tắc người gây ô
nhiễm phải trả tiền.
- Giải thích rõ một số loại
tài nguyên trong đối tượng chịu thuế, thống nhất với Luật Khoáng sản và Luật
Tài nguyên nước, tránh xác định sai đối tượng chịu thuế, gây thất thu ngân sách
nhà nước cũng như không công bằng đối với các chủ thể khai thác tài nguyên,
không đúng với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.
Về thuế suất:
Xây dựng biểu thuế suất sát với thực tế hơn, thu hẹp biên độ thuế suất, cụ thể
là tăng thuế suất sàn, đảm bảo tính chặt chẽ trong việc áp thuế suất. Chẳng hạn
như, quy định khung biểu thuế suất đối với vàng là 9 - 25%, vậy khi nào thì 9%
và khi nào là 25%.
Về các trường hợp
miễn, giảm TTN, luật cần quy định cụ thể, chi tiết hơn. Chế độ ấn hạn thuế rõ
ràng theo từng trường hợp và thời gian cụ thể, tránh tình trạng quy định một
cách chung chung gây khó khăn trong công tác xử lý như hiện nay.
Thống nhất công
tác quản lý và cấp phép khai thác tài nguyên với chính sách thu thuế, đặc biệt
đối với dầu khí, bởi trên dưới 80% số thu từ TTN đóng góp vào ngân sách là từ
hoạt động khai thác dầu khí. Đặt ra những quy định, điều kiện chặt chẽ để lựa
chọn nhà đầu tư có đủ tiềm lực khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên; có
chính sách hỗ trợ, khuyến khích đối với các nhà đầu tư có chú trọng phương tiện,
kỹ thuật hiện đại trong hoạt động khai thác gắn với bảo vệ môi trường, cụ thể
là giảm TTN cho các chủ thể đó.
Lập “quỹ tài
nguyên” thay vì trích nguồn thu ngân sách nhà nước như hiện nay. Nguồn TTN thu
được sẽ đưa vào quỹ này để sử dụng làm nguồn kinh phí cho hoạt động phục hồi, cải
tạo tài nguyên cũng như bảo vệ môi trường. Thông qua quỹ tài nguyên, chúng ta sẽ
biết được số tiền TTN thu được có tương xứng với tính chất, mức độ tác động vào
môi trường và có đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của các chủ thể
khai thác, sử dụng tài nguyên hay không? Từ đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sẽ tăng cường siết chặt công tác quản lý để tránh được tình trạng trốn TTN và
có sự điều chỉnh mức thuế suất hợp lý phù hợp với nguyên tắc người gây ô nhiễm
phải trả tiền./.
Cảm ơn bạn đã quan tâm đến đề tài.
Lý Thành Nhân

Nhận xét
Đăng nhận xét